Tin quốc tế

Theo dòng lịch sử kỷ lục chạy 5000m nam

Trong lịch sử điền kinh, 5000m là một cự ly thú vị với nhiều kỷ lục được lập. Không ít tên tuổi lớn của làng điền kinh nói chung và làng chạy dài, chạy marathon nói riêng, đã ghi dấu ấn bằng những kỷ lục thế giới ở cự ly này. Cùng VnRun ngược dòng lịch sử điểm lại những nét chính về các kỷ lục 5000m dành cho nam.

Kỷ lục thế giới chính thức đầu tiên được IAAF công nhận ở hạng mục nam thuộc về chân chạy Phần Lan Hannes Kolehmainen tại Thế vận hội Mùa hè Stockholm 1912. Thành tích của ông 14 phút 36 giây 6.

Từ đó đến năm 1942, Phần Lan chiếm ưu thế ở cự ly này nhưng phải mất 10 năm người đồng hương Paavo Nurmi (sau này được mệnh danh là ‘Người Phần Lan bay’) mới truất ngôi Kolehmainen. Năm 1922, ông đạt thành tích 14 phút 35 giây 04, và cùng năm đó lập kỷ lục ở cự ly 2000m và 3000m, rồi phá kỷ lục ở cự ly 1500m và một dặm vào năm sau. Năm 1924, ông tiếp tục hạ kỷ lục thế giới của chính mình xuống 14 phút 28 giây 02 tại vòng tuyển chọn Olympic của Phần Lan ở Helsinki, đáng chú ý là ông lập kỷ lục chỉ 50 phút sau khi phá kỷ lục thế giới ở cự ly 1500m.

Kỷ lục này tồn tại 8 năm cho đến khi Lauri Lehtinen giảm được 11 giây vào năm 1932, với thông số 14 phút 17. Mãi đến năm 1939, tác là 7 năm sau, Taisto Mäki, người giữ kỷ lục thế giới 10.000m và 2 dặm vào thời điểm đó, đồng thời cũng được coi là ‘Người Phần Lan bay’ đã trở thành tân kỷ lục gia với thành tích 14 phút 08 giây 08 ở Helsinki.

Năm 1942, tại Gothenburg, chân chạy chủ nhà Thụy Điển Gunder Hägg phá vỡ thế thống trị kỷ lục 5000m của các chân chạy Phần Lan, khi ông đạt thành tích 13 phút 58 giây 02.

12 năm sau, vận động viên người Séc Emil Zátopek, nổi tiếng với việc giành ba huy chương vàng tại Thế vận hội Mùa hè 1952, đã phá kỷ lục của Hägg với thành tích 13 phút 57 giây 02 tại Paris. Cùng năm 1954, ông cũng là chân chạy đầu tiên phá mốc 29 phút ở nội dung 10.000 mét.

Tuy nhiên, kỷ lục 5000m của Zátopek không tồn tại được lâu khi chỉ vài tháng sau đó chân chạy người Liên Xô Vladimir Kuts lập kỷ lục mới tại Giải vô địch châu Âu, đánh bại chính Zátopek để giành danh hiệu vô địch.

Chưa đầy hai tháng sau, chân chạy Chris Chataway của Anh (về đích sau Kuts 12,2 giây tại giải Giải vô địch châu Âu) đạt thành tích 13 phút 51 giây 06 tại giải điền kinh London v. Moscow tại White City. Mặc dù Kuts tái lập kỷ lục chỉ 10 ngày sau đó ở Praha, nhưng thành tích trên đủ khiến Chataway trở thành người nổi tiếng và vào tháng 12 năm đó, ông được BBC trao giải thưởng Nhân vật thể thao của năm đầu tiên.

Ngày 10 tháng 9 năm 1955, VĐV Sandor Iharos của Hungry – người phá kỷ lục 3000m vào đầu năm đó – tiếp tục lập thành tích 13 phút  50 giây 08 ở cự ly 5000m nhưng chỉ giữ kỷ lục được 8 ngày trước khi Kuts tái xuất với thời gian 13 phút 46 giây 08. Ngày 23 tháng 10, Iharos một lần nữa lập kỷ lục với thời gian 13 phút 40 giây 06.

Năm 1956, Gordon Pirie của Anh (người đã lập 5 kỷ lục thế giới trong suốt sự nghiệp) đạt thành tích 13 phút 36 giây 08 ở Bergen để lập kỷ lục thế giới. Nhưng Kuts một lần nữa phá kỷ lục vào ngày 13 tháng 10 năm 1957 với thông số 13 phút  35 giây tại Rome.

Mãi đến năm 1965, tài năng người Úc từng giành huy chương đồng Olympic cự ly 10.000m và lập tới 17 kỷ lục thế giới Ron Clarke xuất hiện. Ngày 16 tháng 1, ông đạt thành tích 13 phút 34 giây 08 để phá kỷ lục của Kuts, rồi chỉ vài tuần sau đó lại phá kỷ lục của chính mình ở Auckland với 13 phút 33 giây 06. Ngày 4 tháng 6, ông hạ thành tích xuống còn 13 phút 25 giây 08 tại Compton, Hoa Kỳ. Chân chạy Kipchoge Keino của Kenya tạm thời lập kỷ lục mới vào ngày 30 tháng 11 năm 1965, nhưng Clarke đã lập lại trật tự vào năm 1966 với thành tích 13 phút 16 giây 06 ở Stockholm, Thụy Điển.

Lasse Virén – người giành bốn huy chương vàng tại Thế vận hội Mùa hè 1972 và 1976 – xuất hiện sáu năm sau đó với thành tích 13 phút 16 giây 04 vào ngày 14 tháng 9 năm 1972 tại Helsinki, nhưng sáu ngày sau, chân chạy Emiel Puttemans của Bỉ (xếp thứ năm ở nội dung 5000m tại Thế vận hội Mùa hè) đã đạt thành tích 13 phút 13 giây Brussels và giữ kỷ lục này trong gần 5 năm.

Chân chạy Dick Quax của New Zealand đã lập kỷ lục thế giới 5000m mới vào ngày 5 tháng 7 năm 1977 tại Stockholm bằng thành tích 13 phút 12 giây 09, trước khi Henry Rono của Kenya lập kỷ lục tại California vào năm 1978 với thành tích 13 phút 08 giây 04. Đó là một phần của chuỗi kỷ lục kéo dài 81 ngày, trong đó chân chạy người Kenya phá bốn kỷ lục thế giới ở các cự ly 5000m, 10.000m, 3000m vượt chướng ngại vật và 3000m. Năm sau, ông tiếp tục hạ kỷ lục ở cự ly 5000m xuống còn 13 phút  06 giây 20.

Chân chạy David Moorcroft của Anh đạt thành tích 13 phút 00 giây 41 tại Bislett Games ở Oslo. Kỷ lục đó tồn tại ba năm trước khi Saïd Aouita của Maroc – vận động viên duy nhất trong lịch sử giành huy chương ở nội dung 800m và 5000m tại Thế vận hội – đạt thông số 13 phút 00 giây 40, cũng ở Oslo, rồi lại hạ kỷ lục của chính mình xuống còn 12 phút 58 giây 39 chỉ hơn hai năm sau.

Thời đạt của các chân chạy châu Phi bắt đầu. Năm 1994, huyền thoại Haile Gebrselassie của Ethiopia đạt thành tích 12 phút 56 giây 96 ở Hengelo – kỷ lục thế giới đầu tiên của anh.

Từ đó cho đến năm 1998, vận động viên hai lần giành huy chương vàng Olympic và bốn lần vô địch thế giới cự ly 10.000m đã phá kỷ lục của chính mình thêm ba lần nữa: vào các năm 1995, 1997 và 1998. Chân chạy Moses Kiptanui của Kenya tạm thời truất ngôi của anh vào ngày 8 tháng 6 năm 1995 với thông tuyệt vời 12 phút 55 giây 30, cũng như Daniel Komen của Kenya đạt thành tích 12 phút 39 giây 74 vào năm 1997, nhưng thành tích 12 phút 39 giây 36 năm 1998 của Gebrselassie tồn tại được gần sáu năm.

Năm 2004, chân chạy xuất sắc Kenenisa Bekele của Ethiopia nổi lên với thành tích 12 phút 37 giây 35 ở Hengelo – và kỷ lục này tồn tại suốt 16 năm cho đến khi bị một chân chạy xuất sắc khác Uganda là Joshua Cheptegei lật đổ vào năm 2020 tại Monaco với thông số 12 phút 35 giây.

Với đà phát triển của công nghệ hỗ trợ (giày chạy, dinh dưỡng, phục hồi…) có lẽ kỷ lục này sẽ bị phá trong thời gian không xa.

(VnRun tổng hợp)

Bạn cũng có thể thích..

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *